Skip to content
blue color orange color green color

Home arrow News arrow Nâng cao chất lượng và giá trị cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Nâng cao chất lượng và giá trị cà phê xuất khẩu của Việt Nam
    Vân Thành Huy
Chủ tịch HĐQT – TGĐ
Công ty Cổ phần Đầu tư XNK Daklak
 – INEXIM DAKLAK

 

Việt Nam là nước sản xuất nhiều cà phê đứng thứ 2 thế giới, sau Brasil; và là nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới.
Là nhà xuất khẩu cà phê ở vùng có sản lượng và người trồng cà phê sôi động nhất cả nước, với nhiều năm tham gia thu mua chế biến xuất khẩu trực tiếp, tôi rất lấy làm vui và hãnh diện rằng cà phê Robusta Việt Nam đã thực sự tham gia chi phối thị trường cà phê trên thế giới, chí ít cũng làm ảnh hưởng trực tiếp đến sàn giao dịch cà phê tại London.Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường, chúng tôi vẫn mãi trăn trở, băn khoăn về chất lượng và điều kiện giao hàng cà phê xuất khẩu của cà phê Việt Nam hiện nay; Và tại diễn đàn này, cho phép tôi trình bày 2 nội dung cơ bản, đó là:
 
Phần thứ nhất:
 
Xuất khẩu cà phê chất lượng cao để tạo giá trị gia tăng mới Đã từ lâu chúng ta có thói quen là chào bán và xuất khẩu cà phê sơ chế theo tiêu chuẩn 13 – 5 – 1 ( thuỷ phần, hạt đen vỡ, tạp chất …) với giá thưòng thấp so với thị trường cùng loại, cụ thể so với giá LIFFE ( London) trừ từ 120 – 240 USD/ tấn, nông dân và nhà xuất khẩu Việt Nam bị thua thiệt lớn, sự thua thiệt này có xuất phát điểm là do sân chơi chưa cân sức với các nước nhập khẩu lớn thường ép các nước sản xuất mà chất lượng hàng chưa theo tiêu chuẩn quốc tế, mặt khác do sự yếu kém của chúng ta về điều hành, quản lý chất lượng hàng xuất khẩu, cũng do khó khăn về tài chính và quy mô của từng doanh nghiệp, sự lạc hậu trong công nghệ chế biến sau thu hoạch .v.v.v..
 
Hai năm gần đây, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới ( WTO ), chúng ta bắt đầu bước vào sân chơi toàn cầu, và các nhà nhập khẩu cũng phải tính đến sự bình đẳng đối với chúng ta, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam đã được cải thiện gần sát hơn với giá thị trường thế giới. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi để thành đạt là chúng ta tham gia thị trường với mức độ như thế nào? sự gắn kết giữa sản xuất với thị trường, sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường và thị trường định hướng sản xuất phát triển. Đó là trách nhiệm của nhà sản xuất, xuất khẩu và nhà quản lý, bởi nếu chúng ta không thống nhất hành động, không phối hợp, không đồng thuận mà chào bán ồ ạt vào mùa thu hoạch với chất lượng sơ chế, không đồng đều thì chúng ta vẫn bị các nhà nhập khẩu lớn chèn ép.
Với tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của cà phê Việt Nam hàng năm từ 900.000 đến 1.000.000 tấn/năm, đạt kim ngạch 1,8 – 2 tỷ USD, nếu chúng ta cùng phấn đấu xuất khẩu cà phê sạch chất lượng cao ( tạp chất từ 0% đến tối đa là 0,5%, tính lỗi hạt và thuỷ phần không quá 12,5% để được cộng thêm từ 50USD đến 100USD/tấn thì chúng ta sẽ thu về lượng ngoại tệ tăng thêm từ 50 triệu USD đến 100 triệu USD, con số này không những nói lên về giá trị mà còn thể hiện rõ chất lượng – thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới.
 
Để làm được điều này, trước hết chúng ta phải thống nhất hành động thực hiện việc áp dụng quy chuẩn chất lượng đối với cà phê xuất khẩu, trên cơ sở Nghị định số 12/2006/ NĐ-CP, ngày 31/12/2006 của Chính phủ, các nhà sản xuất xuất khẩu cà phê phải nhanh chóng đầu tư thiết bị công nghệ chế biến, giảm nhanh việc xuất khẩu cà phê chất lượng sơ chế, tạp chất cao mà lâu nay vẫn tốn tại.
 
Tại Tây Nguyên, một số doanh nghiệp đã đi tiên phong trong việc đầu tư công nghệ chế biến , trong 5 năm gần đây đã tập trung xuất khẩu cà phê chất lượng cao vào các thị trường khó tính như Nhật Bản, Tây Ban Nha, Ý, Đức .…. và đã đạt những thành quả đáng khích lệ.
 
Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng có tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam là vấn đề thu hái của nhà vườn. Chúng ta đều biết đại đa số người nông dân trồng cà phê còn nghèo. Tại Daklak với diện tích 170.000 ha và sản lượng từ 400.000 đến 450.000 tấn nhân/ năm, chiếm >40% tổng sản lượng cà phê cả nước, nhưng có đến 65% hộ nông dân không có sân phơi mà chủ yếu là phơi sân đất, công nghệ sơ chế còn quá lạc hậu; Mặt khác do yếu tố an ninh xã hội trong thời gian thu hoạch, nhất là vào những thời điểm giá cà phê cao, người nông dân luôn có tâm lý thu hái theo kiểu “ xanh nhà hơn già đồng ”, thu hái cả khi quả đang còn xanh, đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến cà phê xanh, non hạt đen nhiều, tác động trực tiếp đến chất lượng cà phê.
 
Từ những yếu tố tác động trên, đòi hỏi nhà nước phải có chính sách cụ thể trong việc hỗ trợ nông dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc, nông dân nghèo có sân phơi, máy sấy, nhanh chóng đưa công nghệ chế biến sau thu hoạch. Bằng những hỗ trợ thiết thực, đưa khoa học công nghệ chăm sóc vào vườn cây nhằm chống việc lạm dụng sử dụng thuốc trừ sâu và phân hoá học, đồng thời tăng cường an ninh xã hội tại từng địa phương trong thời gian thu hái …
 
Phần thứ 2:
 
Thống nhất thực hiện Hợp đồng xuất khẩu theo phương thức giao hàng FCA thay vì FOB:
 
Theo thông lệ quốc tế, và đã từ lâu các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam đều đàm phán và ký hợp đồng với nhà nhập khẩu theo điều kiện giao hàng FOB ( Free On Board), điều kiện giao hàng FOB thưòng là giao những lô hàng rời tại cảng người bán.
 
Hiện nay, hầu hết các lô cà phê giao cho nhà nhập khẩu bằng container, mà đã giao hàng bằng container thì không thể giao hàng ngay tại mạn tàu, mà phải giao hàng cho ngưòi chuyên chở tại các bãi để container ( còn gọi là CY – Container Yard ), hay tại các trạm giao hàng lẻ ( gọi là CFS – Container Freight Station ) ở trên bờ, việc kiểm tra kiểm đếm giữa hai bên và cả việc thông quan của cơ quan Hải quan đều diễn ra tại CY hay CFS, và đây chính là lan can tàu của bên bán theo đúng nghĩa của hàng bán container.
Dẫn chiếu việc này bởi vì thông thường từ lúc giao container cho người chuyên chở tại CY cho đến lúc nhận được vận đơn của hãng tàu phải mất từ 5 đến 7 ngày, mùa xuất khẩu cao điểm phải mất đến 10 ngày, có khi còn lâu hơn; Đây chính là thiệt hại của doanh nghiệp vì hàng đã giao cho nhà nhập khẩu nhưng chưa thể lấy được tiền, chưa kể trường hợp nhà nhập khẩu chưa thuê được tàu, hàng container phải nằm chờ. Vì container chưa được xếp lên tàu thì nhà xuất khẩu chưa nhận được vận đơn của hãng tàu để xin chứng nhận hàng hoá ( C/O ) và gửi hồ sơ cho nhà nhập khuẩ để nhận tiền từ Ngân hàng, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu vì phải vay Ngân hàng, thời gian chịu lãi tăng lên, càng bất lợi hơn khi tình hình biến động tỷ giá ngoại tệ như hiện nay, những bất lợi này đã nhiều lần trình bày với các Bộ - Ngành chức năng và ngay trong Hiệp hội cà phê Việt Nam ( VICOFA ).
 
Tôi kiến nghị các doanh nghiệp cần đàm phán và ký hợp đồng với nhà nhập khẩu để giao hàng theo phương thức FCA ( Free Carrie ) cho việc giao hàng bằng container không những cho mặt hàng cà phê mà cả những mặt hàng khác. Phương thức giao hàng bằng container là theo thông lệ quốc tế mà nhiều nước đã áp dụng, ngay cả Việt Nam nếu áp dụng thành công sẽ đem lại hiệu quả cho nhà xuất khẩu, vấn đề là chúng ta thống nhất ý chí và đồng thuận hay không.
  Tin mới Tin đã đưa
<< Trang trước          

Login






Lost Password?
No account yet? Register

Iso 9001:2000

Saigon Court

Coffee

Bottled water

Fertilizer

Medal

Achievement